Triệu chứng của rò hậu môn là lỗ cạnh hậu môn đóng vẩy khô thỉnh thoảng chảy mủ hoặc dịch vàng hôi, tái đi tái lại nhiều lần.
Rò hậu môn (còn gọi là mạch lươn) là bệnh ở vùng hậu môn trực tràng phổ biến thứ hai sau bệnh trĩ, tuy không gây nguy hiểm chết người nhưng gây rất nhiều phiền toái trong cuộc sống làm ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng sống của con người.
Rò hậu môn là hậu quả của một áp-xe quanh hậu môn trực tràng không được điều trị triệt để, vỡ ra tạo thành đường rò. Như vậy rò hậu môn và áp-xe hậu môn trực tràng là 2 giai đoạn của một quá trình bệnh lý, áp-xe là giai đoạn cấp tính, rò hậu môn là giai đoạn mãn tính. Để đề phòng rò hậu môn cần phát hiện và điều trị tốt các loại áp-xe quanh hậu môn trực tràng.
Triệu chứng của rò hậu môn thường thấy sau một thời gian ổ áp-xe quanh hậu môn vỡ, vết thương liền lại được nhưng để lại một lỗ đóng vẩy khô thỉnh thoảng chảy mủ hoặc dịch vàng hôi, tái đi tái lại nhiều lần. Đôi khi thấy ngứa hay xì hơi qua lỗ rò. Thăm khám thấy tại chỗ cứng chắc, ấn vào đau, khám hậu môn có thể thấy lỗ rò trong.
Điều trị rò hậu môn phải do bác sĩ chuyên khoa điều trị vì nếu điều trị sai cách sẽ dễ dẫn đến biến chứng són phân, đại tiện không tự chủ, nhiễm trùng tầng sinh môn. Vì vậy bệnh nhân khi mắc bệnh không nên giấu bệnh, đến những cơ sở không có chuyên môn điều trị.
Sỏi túi mật là bệnh thường gặp ở nước ta. Ban đầu, những triệu chứng của sỏi có thể rất mơ hồ và thường chỉ phát hiện tình cờ qua thăm khám sức khỏe định kỳ, hoặc khi sỏi đã gây ra những biến chứng nghiêm trọng như viêm túi mật cấp, viêm đường mật, viêm tụy cấp...
Nguyên nhân
Túi mật có nhiệm vụ lưu giữ mật - chất lỏng được sản xuất bởi gan gồm có nhiều thành phần như: cholesterol, bilirubin (sắc tố mật) và muối mật... Trong bữa ăn, túi mật co bóp để đưa dịch mật vào ruột non, hỗ trợ tiêu hóa chất béo.
Sỏi túi mật được hình thành chủ yếu do mất cân bằng của các thành phần có trong dịch mật. Ví dụ như khi lượng cholesterol ở trong dịch mật gia tăng quá mức, vượt quá khả năng hòa tan của muối mật hay khi lượng muối mật giảm đi sẽ dẫn tới hình thành sỏi cholesterol. Sỏi sắc tố mật hình thành do kết tụ của bilirubin trong một số bệnh như thiếu máu hồng cầu liềm, xơ gan...
Sỏi túi mật thường gặp ở nữ, mập, trên 40 tuổi, có nhiều con. Nam giới bị sỏi túi mật ít hơn. Sau 40 tuổi tỉ lệ bị bệnh sỏi túi mật tăng dần.
Triệu chứng
Sỏi túi mật thường không có triệu chứng rõ ràng. Một số dấu hiệu sớm bạn có thể gặp phải bao gồm đầy bụng khó tiêu, buồn nôn, chán ăn, ợ nóng... do thiếu dịch mật để tiêu hóa chất béo.
Khi sỏi di chuyển, cọ xát, hoặc phát triển tăng lên về cả kích thước và số lượng làm tắc nghẽn dòng chảy của dịch mật, bạn có thể thấy xuất hiện những cơn đau quặn ở vùng bụng trên và lưng, kéo dài tới vài giờ đồng hồ
Sỏi túi mật cũng có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng như viêm túi mật cấp, viêm đường mật, viêm tụy cấp...
Điều trị
Người bệnh có sỏi túi mật không triệu chứng: không bị đau bụng trên bên phải thì vẫn sinh hoạt làm việc bình thường, chỉ cần ăn giảm dầu mỡ. Khi sỏi túi mật không đau không cần phẫu thuật.
Việc uống thuốc nam, thuốc tây để tan sỏi thường không hiệu quả. Thốc tan sỏi mật chỉ định hạn chế cho những sỏi có thành phần chủ đạo là cholesterol, chưa vôi hóa, kích thước <1cm. Thời gian uống thuốc tối thiểu 6 tháng với tỷ lệ thành công <50%. Các phương pháp tán sỏi cũng hiệu quả kém.
Phẫu thuật cắt túi mật là triệt để nhất. Các trường hợp sỏi túi mật cần mổ là khi sỏi túi mật gây triệu chứng đau quặn mật, viêm túi mật (đau bụng trên phải, sốt)... Việc mổ cắt túi mật ngày nay được thực hiện qua nội soi ổ bụng rất an toàn, hiếm khi cắt túi mật bằng phương pháp mổ mở bụng.
Có rất nhiều phương pháp khác nhau để điều trị bệnh trĩ. Trong số đó thắt trĩ bằng dây thun (cao su) là phương pháp tuy ra đời đã từ lâu nhưng hiệu quả vẫn rất cao với chi phí điều trị rất thấp. Đây là phương pháp điều trị bệnh trĩ được dùng rộng rãi nhất ở Mỹ từ năm 1958 đến năm 1963 và vẫn hiệu quả đến ngày nay.
Cơ chế
Thắt Trĩ bằng dây thun chính là thủ thuật dùng dây thun để thắt dưới đáy búi Trĩ ngăn chặn hoàn toàn dòng máu chảy đến búi Trĩ, sau đó búi Trĩ sẽ teo lại, hoại tử và rụng đi.
Chỉ định
Áp dụng với trĩ độ 2, độ 3, có hoặc không có chảy máu đã thất bại với điều trị thuốc nội khoa
Cách thực hiện
Để thực hiện phương pháp này trước tiên thầy thuốc sẽ đút một ống nội soi được làm ấm và bôi trơn vào hậu môn của người bệnh, búi Trĩ sẽ được giữ chặt bằng kẹp và một dụng cụ sẽ lồng dây thun vào đáy của búi Trĩ. Búi Trĩ sẽ rụng đi sau 7 ngày.
Thông thường mỗi lần chỉ thắt tối đa 3 búi Trĩ và chỉ áp dụng cho trĩ độ 2-3.
Đa phần các bệnh nhân sau thắt trĩ đều gần như không đau, một số ít cảm thấy đau nhẹ nhưng chỉ trong 24-48 giờ đầu. Bác sĩ sẽ cho thuốc để hỗ trợ giảm đau cho bệnh nhân.
Ưu điểm của phương pháp
Thực hiện dễ dàng, nhanh chóng, không phải nhập viện nên giảm thiểu rất nhiều thời gian và chi phí cho người bệnh.
Bệnh nhân có thể đi về và sinh hoạt bình thường ngay sau khi thắt trĩ.
Thắt trĩ bằng dây thun cải thiện triệu chứng nhanh chóng và kéo dài hơn so với phương pháp chích xơ hoặc quang đông bằng tia hồng ngoại.
Không gây đại tiện không kiểm soát hay hẹp hậu môn như một số phương pháp khác
Tỷ lệ người nhiễm Hp dạ dày ở Việt Nam và trên thế giới rất cao, đạt đến 70-80%. Nhiễm Hp dạ dày là nguyên nhân chính gây ra các bệnh viêm loét dạ, thậm chí là ung thư dạ dày.
Nhiễm khuẩn Hp (Helicobacter Pylori) là nguyên nhân khiến bệnh lý dạ dày trở nên dai dẳng khó dứt, bệnh thường có tiến triển nặng hơn so với những đối tượng bị bệnh dạ dày nhưng không có vi khuẩn Hp. Tuy nhiên, nhiễm khuẩn Hp không có dấu hiệu đặc trưng, cho nên để biết có vi khuẩn Hp trong dạ dày hay không, nhất thiết phải làm các xét nghiệm kiểm tra vi khuẩn Hp dạ dày ngoài việc thăm khám lâm sàng.
Các yếu tố lựa chọn chỉ định xét nghiệm Hp
Có nhiều xét nghiệm giúp kiểm tra vi khuẩn Hp dạ dày, để chọn đúng chỉ định bác sỹ tùy thuộc vào các yếu tố sau:
Điều kiện vật chất và kỹ thuật của cơ sở khám chữa bệnh: cơ sở khám chữa bệnh có những test kiểm tra vi khuẩn Hp trong dạ dày nào?
Yêu cầu xét nghiệm nhanh hay chậm: nếu bệnh không phải cấp tính và bệnh nhân có thể chờ đợi kết quả thì bác sỹ sử dụng các test chậm hơn như nuôi cấy vi khuẩn.
Các yêu cầu khác kèm theo việc kiểm tra nhiễm khuẩn Hp: bệnh nhân có cần kiểm tra tình trạng tổn thương dạ dày không, có cần làm xét nghiệm kháng sinh đồ không?
Các xét nghiệm kiểm tra vi khuẩn Hp dạ dày
Dựa trên các đặc điểm trên, bác sỹ sẽ quyết định làm một trong các xét nghiệm sau, hoặc làm kết hợp các test sau:
Nội soi làm sinh thiết kiểm tra vi khuẩn Hp
Bác sỹ dùng một ống nội soi nhỏ xâm nhập vào dạ dày qua ống thực quản tới dạ dày. Bác sỹ sẽ lấy một mảnh sinh thiết quanh vị trí có tổn thương dạ dày để làm xét nghiệm Clo Test hoặc nuôi cấy vi khuẩn, hoặc chỉ đơn giản là nhìn hình thái của tổn thương dạ dày, bác sỹ có thể chẩn đoán sơ bộ tình trạng nhiễm khuẩn Hp của bệnh nhân.
Đối với xét nghiệm này, bác sỹ không những chẩn đoán chính xác được tình trạng nhiễm khuẩn Hp trong dạ dày của bệnh nhân, đồng thời còn đánh giá được mức độ tổn thương, vị trí tổn thương và đưa ra các phán đoán về diễn biến của bệnh và phác đồ điều trị phù hợp nhất.
Màu hồng là dương tính chứng tỏ đã nhiễm Hp
Chính vì vậy, sẽ không ngạc nhiên, nếu như bạn tới phòng khám với tình trạng đau dạ dày và rất có khả năng được bác sỹ chỉ định nội soi dạ dày. Đây là một thủ thuật không hề dễ chịu, nhưng đây lại là thủ thuật vô cùng quan trọng để đánh giá tình trạng tổn thương dạ dày mà không có xét nghiệm nào có thể làm được. Ngoài ra, nếu bạn đã từng điều trị vi khuẩn Hp mà không thành công thì bác sỹ có thể chỉ định làm kháng sinh đồ để xem vi khuẩn Hp đã kháng thuốc chưa, còn có thể sử dụng phác đồ thuốc nào dành cho bạn.
Test thở Ure
Bạn sẽ được đưa một thiết bị và thở vào đó. Hiện nay có 2 dạng, test thở sử dụng bóng – bạn thổi vào thiết bị giống quả bóng, test thở sử dụng thẻ – bạn thổi vào thiết bị giống 1 chiếc thẻ ATM. Sau đó hơi thở của bạn được đánh giá trên thiết bị phân tích và có chỉ số đánh giá xem bạn có dương tính với Hp hay không. Nếu dương tính với Hp tức là bạn đã nhiễm Hp, còn âm tính thì ngược lại.
Test thở này cũng cho kết quả rất chính xác và được khuyến khích sử dụng trên mọi đối tượng do test diễn ra nhanh, bệnh nhân không bị can thiệp, có thể dùng dễ dàng trên trẻ em. Tuy nhiên, chi phí 1 test này ở Việt Nam thường nằm trong khoảng 600.000 – 1.000.000 thậm chí cao hơn, tùy vào cơ sở khám, thiết bị khám, cho nên không phải ai cũng có điều kiện để chi trả. Test hơi thở này đặc biệt hữu ích đối với những người đã điều trị vi khuẩn Hp và cần đánh giá lại hiệu quả tiệt trừ Hp.
Bạn cũng cần lưu ý, hiện nay có 2 loại test thở khác nhau, 1 loại sử dụng C13 (Carbon 13), một loại sử dụng C14 (Carbon14) có giá thành khác nhau và đối tượng chỉ định cũng có khác nhau. Loại sử dụng C14 có giá thành rẻ hơn nhưng C14 là yếu tố phóng xạ cho nên hạn chế sử dụng trên đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Trước khi thăm khám và kiểm tra ở các cơ sở, bạn hoàn toàn có thể yêu cầu được biết loại xét nghiệm mình làm là C13 hay C14 để có quyết định phù hợp. Do tính chất, test thở là loại test mới ở Việt Nam, nên có ít thông tin tra cứu, vì vậy bạn cần trang bị kiến thức để tránh ảnh hưởng tới sức khỏe của mình.
Xét nghiệm phân
Vi khuẩn Hp nếu có trong dạ dày sẽ được thải trừ thường xuyên qua phân. Xét nghiệm phân bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang giúp phát hiện vi khuẩn Hp trong phân một cách chính xác. Đây cũng là một xét nghiệm chính xác, được ưu tiên sử dụng trong đánh giá nhiễm khuẩn Hp.
Mặc dù dễ dàng thực hiện đối với bệnh nhân, kết quả chính xác, chi phí hợp lý nhưng test này không cho kết quả nhanh chóng nên không phải là test nhanh. Ngoài ra, việc lấy phân đi xét nghiệm cũng còn nhiều vấn đề về vệ sinh, tiện lợi cho người bệnh và kỹ thuật viên.
Xét nghiệm máu
Khi bạn nhiễm khuẩn Hp, cơ thể bạn sẽ sinh ra kháng thể kháng Hp, loại kháng thể này được lưu hành trong máu và có thể phát hiện được bằng xét nghiệm kháng thể trong máu. Test này có mặt ở hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh cấp tỉnh, thành phố trên cả nước.
Tuy nhiên, đây không phải loại xét nghiệm được ưu tiên thực hiện, chỉ những cơ sở không có phương pháp xét nghiệm nào khác mới thực hiện xét nghiệm này. Lý do là vì vi khuẩn Hp có thể tồn tại ở một số khu vực khác như khoang miệng, xoang, đường ruột nhưng hoàn toàn không gây bệnh. Lý do thứ hai là mặc dù vi khuẩn Hp trong dạ dày đã bị tiệt trừ hết, tuy nhiên, kháng thể kháng Hp vẫn có thể lưu hành trong máu trong thời gian một vài tháng tới một vài năm sau đó. Nếu dựa vào đó để chẩn đoán nhiễm Hp rất dễ xảy ra tình trạng dương tính giả.
Kết luận
Trên đây là một số test thường được sử dụng để kiểm tra nhiễm vi khuẩn HP dạ dày nhất. Mỗi loại xét nghiệm sẽ có ưu, nhược điểm khác nhau. Bác sỹ sẽ chỉ định cho bạn loại xét nghiệm phù hợp khi bạn đi thăm khám. Tuy nhiên, bạn cần trang bị kiến thức tổng quan như trên để tránh những lo lắng không cần thiết, cũng như hiểu hơn về tình trạng nhiễm khuẩn Hp của mình cũng như tự bảo vệ mình trước các thông tin truyền miệng, thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng về xét nghiệm Hp.
Áp xe hậu môn là tình trạng mưng mủ ở gần khu vực hậu môn. Phần lớn áp xe hậu môn là kết quả của nhiễm trùng từ những tuyến hậu môn nhỏ. Bệnh có thể gặp ở bất cứ ai trong độ tuổi nào, ngay cả với trẻ sơ sinh.
Loại áp-xe hậu môn phổ biến nhất là áp xe quanh hậu môn. Áp xe quanh hậu môn là tình trạng xuất hiện mủ ở các khoang hoặc lỗ nhỏ trong trực tràng khi bị nhiễm trùng (Trực tràng là phần cuối cùng của ruột già và là nơi phân được trữ trước khi được thải ra ngoài qua ống hậu môn và hậu môn).
Vì sao áp xe hậu môn khó điều trị dứt điểm
Áp xe hậu môn gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh. Vì thế, nhiều người đã tiến hành điều trị tuy nhiên bệnh vẫn tái phát trở lại, khiến người bệnh không tránh khỏi hoang mang và lo lắng. Áp xe hậu môn tái phát là do:
Dùng thuốc kháng sinh chưa đủ mạnh: thuốc kháng sinh chưa đủ mạnh sẽ không tiêu diệt được vi trùng gây bệnh, nên các mầm bệnh này vẫn tiếp tục phát triển và tạo nên ổ áp xe mới;
Điều trị bệnh bằng bài thuốc dân: Điều trị bệnh bằng các bài thuốc dân gian thường lành tính nhưng thời gian hiệu quả lâu, nên nhiều người bệnh chưa khỏi hoàn toàn đã ngưng sử dụng, làm cho các vi khuẩn có cơ hội phát triển trở lại và gây ra viêm nhiễm, tạo nên các ổ áp xe, gọi là áp xe tái phát;
Chưa đúng quy trình hoặc phương pháp phẫu thuật áp xe: Chưa nạo vét hết ổ áp xe, dịch mủ còn sót đọng lại tại nơi có vết mổ, làm cho tổn thương không thể lành;
Hệ miễn dịch của người bệnh kém, mất khả năng chống lại các vi khuẩn gây bệnh.
Nguyên nhân bệnh Áp xe hậu môn
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến áp xe hậu môn:
Nhiễm trùng từ vết nứt hậu môn (vết rách nhỏ trên da của ống hậu môn);
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục;
Tuyến hậu môn bị viêm tắc.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh áp xe hậu môn:
Viêm đại tràng;
Viêm ruột như bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng;
Tiểu đường;
Viêm túi thừa;
Viêm vùng chậu;
Nhiễm qua đường tình dục (quan hệ tình dục qua hậu môn)
Triệu chứng bệnh Áp xe hậu môn
Triệu chứng phổ biến nhất của áp-xe hậu môn là tình trạng đau nhói ở hậu môn, đặc biệt là khi ngồi xuống (phần hậu môn tiếp xúc với bề mặt khác). Sau đó vài ngày có thể xuất hiện một khối sưng đau ở cạnh hậu môn. Chỗ đau có thể có màu đỏ và khi chạm vào thấy nóng. Các dấu hiệu khác như kích thích hậu môn, chảy mủ và táo bón.
Phần lớn bệnh nhân có thể bị sốt, ớn lạnh hoặc khó chịu cho người bệnh. Tuy nhiên, Khi ổn áp xe nằm ở sâu thì chỉ có biểu hết duy nhất là sốt. Chính vì vậy, rất khó để phát hiện chính xác bệnh qua cách thông thường, nên khi thấy có biểu hiện như trên hay một số triệu chứng khác không được đề cập trên đây, người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ ngay để được thăm khám và tư vấn kịp thời.
Áp xe hậu môn
Phòng ngừa bệnh Áp xe hậu môn
Nếu được điều trị và chăm sóc phù hợp, người bệnh sẽ hoàn toàn được hồi phục trong một thời gian ngắn;
Có chế độ sinh hoạt khoa học, lành mạnh;
Vệ sinh vùng hậu môn sạch sẽ, khô thoáng tốt nhất rửa bằng nước;
Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục;
Các biện pháp điều trị bệnh Áp xe hậu môn
Khi khối mủ vùng hậu môn vỡ, người bệnh cần được phẫu thuật tháo mủ (có gây tê). Trường hợp nặng, người bệnh có thể phải nhập viện để gây mê phẫu thuật với trường hợp áp xe rộng và sâu. Sau phẫu thuật, người bệnh sẽ dùng thuốc giảm đau và kháng sinh. Kháng sinh không nhất thiết phải dùng, nhất là với những người thể trạng khỏe mạnh và sức đề kháng tốt. Kháng sinh nên dùng với trường hợp người bệnh bị tiểu đường hay suy giảm hệ miễn dịch. Người bệnh cần có thời gian để hồi phục sau phẫu thuật.
Dẫn lưu phẫu thuật là quan trọng, tốt nhất là trước khi áp xe xảy ra. Áp xe bề mặt hậu môn có thể được dẫn lưu với gây tê tại chỗ.
Đôi khi, phẫu thuật rò hậu môn có thể được thực hiện từ 4 - 6 tuần sau khi áp xe được dẫn lưu. Lỗ rò có thể không xuất hiện nhiều tháng hoặc nhiều năm sau áp xe hậu môn. Vì vậy, phẫu thuật lỗ rò thường là một thủ thuật riêng biệt, có thể được thực hiện ở bệnh nhân ngoại trú hoặc nằm viện ngắn ngày.
Lời khuyên cho người bệnh là ngâm hậu môn trong bồn tắm nước ấm 3-4 lần/ngày. Làm mềm phân được khuyến nghị để giảm khó chịu của nhu động ruột. Một số người bệnh được khuyên mang gạc hoặc miếng thấm nhỏ để ngăn dịch dẫn lưu làm bẩn quần áo.
Sau khi điều trị thành công bệnh áp xe hậu môn, để dự phòng tái phát cần tuân theo lời khuyên của bác sĩ. Khi phát hiện tình trạng áp xe hậu môn tái phát, bệnh nhân không nên quá lo lắng hoặc sợ hãi, bởi điều đó chỉ khiến bệnh trở nên nặng hơn. Điều đầu tiên bạn cần bình tĩnh và đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám và đưa ra cách giải quyết phù hợp.
Ngoài ra, trong quá trình điều trị, người bệnh nên tuân thủ các hướng dẫn chăm sóc của bác sĩ, có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, vận động hợp lý để tăng cường miễn dịch và tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ. Theo đó, bệnh áp xe hậu môn sẽ được cải thiện một cách hiệu quả nhất.